Tiếng ViệtEnglish
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN BÌNH
Giới thiệu
Tin tức
Sản phẩm
Thư viện
Tuyển dụng
Liên hệ
Video clip
An Binh Paper Corporation
An Bình là thành viên của
  • Fast500
  • VNR500
  • VPPA
  • VINPAS
  • BIR
  • VCCI
  • TAPPI
  • Thông tin
  • Hoạt động công ty
  • Tài liệu

Quan điểm của Hiệp hội Giấy Trung Quốc về sự phát triển ngành giấy Trung Quốc trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13

Thứ ba, 14/11/2017 01:11

QUAN ĐIỂM CỦA HIỆP HỘI GIẤY TRUNG QUỐC

VỀ SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIẤY TRUNG QUỐC

TRONG KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ 13

(Toàn văn)

Hiệp hội Giấy Trung Quốc [2017] Số 11

Thông báo về việc ban hành ý kiến của Hiệp hội Giấy Trung Quốc về việc xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ 13 cho ngành giấy

Các đơn vị liên quan:

“Quan điểm của Hiệp hội Giấy Trung Quốc về sự phát triển ngành giấy Trung Quốc trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13”, được Phiên họp thứ IV mở rộng của BCH xem xét và phê duyệt. Đề nghị các hội viên và các đơn vị có liên quan quán triệt và tận tâm thực hiện.

Ngày 27 tháng 06 năm 2017

Tệp đính kèm: Quan điểm của Hiệp hội Giấy Trung Quốc về sự phát triển ngành giấy Trung Quốc trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13

Lời nói đầu

Ngành giấy là một ngành sản xuất nguyên liệu quan trọng có quan hệ mật thiết với nền kinh tế quốc dân và với sự phát triển của xã hội, bao gồm sản xuất bột giấy, giấy (bao gồm giấy và bìa giấy, giấy thủ công), gia công sản phẩm giấy, liên quan đến nông nghiệp, lâm nghiệp, hóa chất, máy móc, điện tử, năng lượng, giao thông vận tải và các lĩnh vực khác. Sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như thông tin văn hoá, đời sống nhân dân, công nghiệp, nông nghiệp và quốc phòng. Tiêu thụ giấy trực tiếp và gián tiếp liên quan đến mọi thành phần trong xã hội, và liên quan chặt chẽ đến an ninh kinh tế quốc gia, được coi là "thước đo kinh tế xã hội". Ngành công nghiệp giấy sử dụng các phần dư thừa trong lâm nghiệp, nông nghiệp và giấy đã qua sử dụng làm nguyên liệu, là một thành phần quan trọng của nền kinh tế quốc dân của Trung Quốc với đặc điểm phát triển bền vững.

Trong những năm gần đây, tình hình quốc tế phức tạp và có nhiều thay đổi, một chu kỳ cải cách công nghiệp mới đang được tiến hành, cơ cấu công nghiệp toàn cầu và sự phân công lao động quốc tế đang được điều chỉnh. Mô hình ngành giấy toàn cầu đang thay đổi, tiến bộ công nghệ nhanh, tái chế được tăng cường, nền kinh tế các bon thấp và nền kinh tế xanh trở thành một hướng phát triển mới. Ngành giấy là ngành sản xuất hỗ trợ cho các ngành sản xuất khác, trong môi trường quốc tế mới sẽ phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng và cơ hội phát triển chiến lược.

"Kế hoạch 5 năm lần thứ 13" là giai đoạn then chốt trong việc xây dựng một xã hội văn minh, giầu đẹp, là thời điểm của cơ hội chiến lược cho sự phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc cũng như giải quyết mâu thuẫn giữa các rào cản về nguồn lực và môi trường. Để thực hiện Kế hoạch, Hiệp hội Giấy Trung Quốc đưa ra quan điểm phát triển ngành giấy, để đạt được sự phát triển chung, phát triển tổng thể của ngành, phối hợp phát triển hài hòa ngành giấy và môi trường, phối hợp phát triển trong nước và phát triển bên ngoài. Đặt nền móng vững chắc cho hiện đại hóa và phát triển bền vững.

Thứ nhất - Hiện trạng và các vấn đề của ngành giấy

Ngành giấy Trung Quốc qua 15 năm phát triển ở tốc độ cao, giải quyết thành công sự thiếu hụt nguồn cung, đạt được sự cân bằng cơ bản giữa sản xuất và tiêu dùng và đứng ở vị trí hàng đầu thế giới. Đặc điểm chính của giai đoạn phát triển này là dựa vào đầu tư quy mô lớn, sử dụng công nghệ và thiết bị tiên tiến của thế giới, mở rộng nhanh chóng năng lực sản xuất. Trong 15 năm từ 2001 đến 2015, đầu tư mở rộng và đầu tư mới của ngành giấy đã lên tới 1,9 nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT), tăng bình quân hàng năm gần 20%. Với sự hỗ trợ của nguồn vốn đầu tư lớn đó, sản xuất bột giấy tăng, tỷ lệ các sản phẩm giấy cao cấp tăng, sản xuất giấy và bìa và tiêu dùng trong nước đứng đầu thế giới trong 07 năm liên tiếp, chất lượng sản phẩm gần với cấp độ thế giới. Ngành giấy của Trung Quốc đang đứng trước một thị trường lớn nhất và hứa hẹn nhất trên thế giới, một thị trường tiêu thụ ½ tổng tiêu dùng toàn Châu Á, ¼ tổng tiêu dùng toàn cầu. Sản xuất và tiêu dùng năm 2015 lần lượt đạt 106,1 triệu tấn và 103,52 triệu tấn.

Trong giai đoạn Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, sản xuất và tiêu dùng giấy giảm mạnh. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của sản xuất và tiêu dùng biểu kiến lần lượt là 2,9% và 2,4%, thấp hơn mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch 05 năm lần thứ 12 là 4,6%. Trong giai đoạn Kế hoạch 05 năm lần thứ 13, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc sẽ nằm trong một giai đoạn chuyển đổi chiến lược rất quan trọng. Theo kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội quốc gia lần thứ 13 của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nền kinh tế quốc gia sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng trung và cao, với GDP dự kiến sẽ tăng 6,5% vào năm 2020. Tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập bình quân đầu người của người dân thành thị và nông thôn đạt gấp đôi năm 2010. Mục tiêu đô thị hóa là 60%. Thị trường vẫn còn không gian phát triển và được điều chỉnh ở mức độ nhất định.

Trong mười năm qua, sản xuất giấy đã tích lũy và mở rộng nhanh chóng về sản lượng và quy mô, và đã giải quyết được vấn đề thiếu hụt, bên cạnh đó các yếu tố tiềm năng duy trì sự tăng trưởng kinh tế như tài nguyên, năng lượng, môi trường đều suy giảm mạnh vì vậy không gian mở rộng công suất cũng ngày càng bị thu hẹp. Cơ cấu sản phẩm của ngành giấy vẫn còn bất hợp lý, một số sản phẩm dư thừa, tình trạng lệ thuộc vào bên ngoài về nguyên liệu ngày càng cao, công nghệ chậm đổi mới, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số, hiệu quả sử dụng tài nguyên, quản lý môi trường thấp và một loạt các vấn đề khác. Thêm nữa do ảnh hưởng chung của môi trường kinh tế trong và ngoài nước, tăng trưởng xuất khẩu của các ngành chế tạo trong nước giảm dẫn đến nhu cầu sử dụng giấy làm bao bì đóng gói cũng giảm theo. Lĩnh vực giấy in thì chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ ngành xuất bản ấn phẩm điện tử và mô hình văn phòng không sử dụng giấy…, những điều đó cho thấy ngành giấy Trung Quốc phải bước vào giai đoạn chuyển đổi.

Thứ hai - Đối diện với tình hình mới

1, Những thay đổi vể môi trường cạnh tranh của thị trường

Trong "Kế hoạch 05 năm lần thứ 13", ngành giấy sẽ có bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển. Nhu cầu trong nước sẽ tăng dần theo từng năm cùng với mục tiêu đáp ứng nhu cầu trong nước và cân bằng sản xuất và tiêu dùng. Tuy nhiên ngành giấy cũng sẽ chịu áp lực gấp đôi: mức độ tăng trưởng về nhu cầu giảm và một số sản phẩm bão hoà trên thị trường cộng với sự biến động của quy luật mạnh được yếu thua của nền kinh tế thị trường.

Môi trường kinh tế thế giới sẽ phức tạp hơn, các nước phát triển và các nước đang phát triển sẽ tiếp tục tăng cường bảo hộ thương mại, môi trường thị trường nội địa và quốc tế đang thay đổi tương đối nhanh, xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu và sự gia tăng phát triển kinh tế khu vực sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành giấy Trung Quốc và tương lai của thị trường.

2, Thay đổi cách thức phát triển

Tiêu dùng giấy của Trung Quốc đã thay đổi từ thiếu hụt nghiêm trọng trong quá khứ sang cơ bản cân bằng trong hiện tại. Phát triển ngành giấy theo cách mở rộng quy mô không còn tiếp tục được nữa và ngành giấy đang chuyển đổi từ phát triển sản lượng ồ ạt trong quá khứ sang phát triển hợp lý và ổn định. Dù chủ động hay thụ động ngành giấy đều phải thích ứng với xu thế mới, bình thường mới, thay đổi cách thức phát triển, tối ưu hóa cơ cấu, nâng cao chất lượng phát triển, dẫn dắt thị trường và phát triển ngành lên đẳng cấp mới.

Ngành giấy cần chú ý nhiều hơn đến sự thay đổi nhu cầu thị trường và hiệu quả hoạt động, nắm bắt sự cân bằng về đầu tư, cân bằng cơ hội đầu tư và tăng trưởng tiêu dùng, giảm chi phí phát triển, ngăn chặn sự mở rộng mù quáng và lắp đặt dư thừa công suất mới. Thông qua điều chỉnh chiến lược phát triển để tinh chỉnh thị trường, mở rộng lĩnh vực sản xuất, phát triển sản phẩm mới, mở rộng chuỗi công nghiệp, tạo ưu thế cạnh tranh mới, đạt được một sự cân bằng mới.

3, Phát triển xanh là cần thiết

Việc phát triển ở tốc độ cao trong hơn 30 năm của ngành giấy Trung Quốc đã kéo theo áp lực rất lớn về tài nguyên và môi trường, Trong giai đoạn "Kế hoạch 5 năm lần thứ 13" ngành giấy Trung Quốc phải đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu về vốn, tài nguyên, thị trường và các rào cản thương mại xanh sẽ càng rõ ràng hơn. Sự thay đổi đáng kể về cơ cấu tiêu dùng, thiếu hụt tài nguyên, năng lượng và vấn đề môi trường sẽ thúc đầy ngành giấy phải tiến theo con đường phát triển xanh.

Ngành giấy phải phát huy đầy đủ các đặc tính của nền kinh tế tuần hoàn và nguyên liệu xanh có thuộc tính cacbon thấp, dựa vào tiến bộ công nghệ, sáng tạo mô hình phát triển mới. Có sự đột phá trong các vấn đề quan trọng liên quan đến sự phát triển lành mạnh của ngành giấy Trung Quốc như cơ cấu sản phẩm, tài nguyên, môi trường…Thực hiện chiến lược phát triển bền vững, nỗ lực giải quyết tình trạng thiếu hụt về tài nguyên và những ràng buộc về môi trường, nâng cao năng lực phát triển bền vững. Xây dựng nền tảng sản xuất xanh là hướng phát triển chiến lược của ngành giấy.

Thứ ba - Tư tưởng chỉ đạo

Quán triệt một cách sâu sắc khái niệm phát triển “đổi mới, cân bằng, phát triển xanh, mở rộng và chia sẻ” của Kế hoạch 05 năm lần thứ 13, kiên trì lấy thị trường làm định hướng; lấy điều chỉnh cơ cấu làm chủ đạo; lấy sáng tạo khoa học kỹ thuật làm động lực; lấy xây dựng  công nghệ sản xuất giấy hiện đại, ít gây hại cho môi trường, tiết kiệm tài nguyên làm mục tiêu; nâng cao chất lượng cung cấp, khắc phục điểm yếu, nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu công nghiệp một cách khoa học, phát triển có trình tự để đáp ứng nhu cầu giấy và các sản phẩm từ giấy trong phát triển kinh tế của Trung Quốc, thúc đầy ngành giấy Trung Quốc từ nước sản xuất lớn thành một cường quốc về sản xuất giấy.

Thứ tư - Các nguyên tắc cơ bản

(A) Kiên trì nguyên tắc thị trường trong việc phân bố nguồn lực

Tuân thủ quy luật thị trường, thông qua đòn bẩy thị trường để điều tiết đầu tư và sản xuất giấy và bìa trong nước, duy trì sự cân bằng cơ bản của cung và cầu, để tăng trưởng kinh tế theo nhu cầu, thông qua cạnh tranh thị trường để tối đa hóa và tối ưu hóa hiệu quả.

(B) Nhấn mạnh vào chuyển đổi và nâng cấp dựa vào đổi mới

Thực hiện chiến lược đổi mới và phát triển, tập trung vào đổi mới công nghệ, phát triển các ngành chủ chốt của các công nghệ chủ chốt để thúc đẩy đổi mới, nhanh chóng đưa ngành giấy tham gia vào những thay đổi trong chuỗi giá trị cao và kỹ thuật cao.

(C) Kiên trì điều chỉnh và tối ưu hóa cơ cấu ngành giấy

Cải thiện mật độ bố trí các nhà máy của ngành giấy, bố trí các nhà máy trong khu vực và cơ cấu sản phẩm hợp lý hơn, phát triển sản phẩm mới, nuôi dưỡng các điểm tăng trưởng mới, tận dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, cải thiện cơ cấu nguyên liệu.

(D) Tuân thủ sự phát triển của chu trình carbon thấp xanh

Thúc đẩy việc sử dụng tuần hoàn và có hiệu quả cao nguồn tài nguyên, tăng cường sản xuất sạch, tăng cường sử dụng năng lượng sinh khối, chú trọng tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải, thúc đẩy tiêu thụ các sản phẩm xanh có lượng carbon thấp.

Thứ năm - Mục tiêu phát triển

Trên cơ sở "Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 cho phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc", để định hướng ngành giấy phát triển lành mạnh, hợp lý và bền vững, Ban Chấp hành Hiệp hội Giấy Trung Quốc đã đưa ra các mục tiêu phát triển của ngành như sau:

Thông qua việc điều chỉnh cơ cấu ngành hợp lý hơn, nâng cao chất lượng phát triển và lợi ích kinh tế của ngành;

Bảo vệ cung và cầu trong nước trên cơ sở ngăn ngừa phát triển năng lực sản xuất một cách mù quáng;

Thông qua việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên, năng lượng và giảm phát thải để kiểm soát ô nhiễm một cách hiệu quả, giảm tiêu thụ nước và năng lượng;

Tăng cường khả năng đổi mới, xây dựng một hệ thống sản xuất giấy hiện đại phù hợp với điều kiện của Trung Quốc và thúc đẩy ngành giấy có bước chuyển chiến lược từ rộng lớn sang vững mạnh, đạt được mục tiêu phát triển xanh.

Sau khi phân tích mối tương quan của quá trình phát triển của ngành giấy trong nước và quốc tế, mục tiêu của kế hoạch 05 năm lần thứ 13 về quy mô, trang bị kỹ thuật, giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và những kỳ vọng phát triển khác của ngành giấy như sau:

1, Quy mô

Đến cuối năm 2020, tổng tiêu thụ giấy và bìa dự kiến sẽ đạt 111 triệu tấn, tăng trưởng bình quân hàng năm là 1,4%, tiêu dùng bình quân đầu người hàng năm dự kiến đạt 81 kg, tăng 5 kg so với năm 2015; công suất giấy và bìa cứng đầu tư mới, đầu tư mở rộng và chuyển đổi dự kiến là 16 triệu tấn, trong đó đã tính cả năng lực sản xuất lạc hậu hiện có sẽ bị đào thải khoảng 8 triệu tấn; tổng công suất giấy và bìa ước tính đạt 136 triệu tấn, tổng sản lượng dự kiến đạt 115,55 triệu tấn, tăng bình quân 1,5% mỗi năm.

2, Cơ cấu bột giấy

Ước tính đến năm 2020, tỉ lệ bột sản xuất từ gỗ, bột từ giấy thu hồi và bột phi gỗ sẽ được điều chỉnh lần lượt là 28,6%, 65,0% và 6,4% tương ứng với 27,9%, 65,1% và 7,0% vào năm 2015. Tỷ lệ bột giấy sản xuất trong nước tăng từ 9,8% lên 10,5% trong khi vẫn tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch đặc biệt “Kết hợp rừng-giấy”, tỷ lệ bột từ giấy thu hồi duy trì ở mức 65%, tiêu dùng bột từ giấy thu hồi tăng 6,7 triệu tấn, thu gom giấy đã qua sử dụng tăng 7,5 triệu tấn, sản xuất bột phi gỗ duy trì ở 6,0 triệu tấn.

3, Cơ cấu sản phẩm

Tăng cường khả năng phát triển sản phẩm mới và năng lực xây dựng thương hiệu, tập trung vào việc điều chỉnh và tối ưu hóa cơ cấu đa dạng và chất lượng sản phẩm của giấy in không tráng, giấy tissue, giấy làm bao bì và bìa cứng, giấy và bìa chuyên dụng để đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu dùng đa dạng, hình thành các loại giấy cao cấp, tinh tế, đặc biệt, khác biệt và độc đáo.

4, Cơ cấu doanh nghiệp

Đẩy nhanh việc sáp nhập và tổ chức lại các doanh nghiệp sản xuất giấy, thay đổi cục diện số lượng nhiều nhưng quy mô nhỏ. Các mặt hàng chủ lực được sản xuất với quy mô lớn, công nghệ tiên tiến cho năng suất cao thay thế cho công nghệ lạc hậu, năng suất thấp; các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải trở thành các doanh nghiệp chuyên môn hoá cao và có tính đặc sắc; hoàn thiện mức độ tập trung của ngành giấy. Hình thành có tính đột phá các doanh nghiệp quy mô lớn, cân đối tỉ lệ các doanh  nghiệp nhỏ và vừa. Dự kiến ​​đến năm 2020 sẽ có khoảng 20 doanh nghiệp giấy và bột giấy có sản lượng hàng năm trên 01 triệu tấn.

5, Trang bị kỹ thuật

Tăng cường năng lực tự chủ sáng tạo, nỗ lực tự chủ khai thác sự phát triển công nghệ và các sản phẩm; nâng cao năng lực thiết kế và trình độ công nghệ sản xuất và mức độ đồng bộ của thiết bị, đưa công nghệ và thiết bị của các doanh nghiệp trọng điểm trong sản xuất giấy và bột giấy tới gần trình độ tiên tiến của thế giới.

6, Tiêu thụ tài nguyên và giảm phát thải chất thải gây ô nhiễm

Theo yêu cầu của "phác thảo", ngành công nghiệp giấy chủ động phối hợp hoàn thành mục tiêu phát triển xã hội trong giai đoạn “Kế hoạch 05 năm lần thứ 13” của Trung Quốc giảm 23% lượng nước để tạo ra một đơn vị GDP (có giá trị 10.000 nhân dân tệ - đồng tiền Trung Quốc); tiêu thụ năng lượng giảm 15% để tạo ra 01 đơn vị GDP; phát thải các chất ô nhiễm chính COD (nhu cầu ô xy hoá học), khí amoniac (NH3) giảm 10%; phát thải dioxit lưu huỳnh (SO2) và oxit nitơ giảm 15%.

Thứ sáu - Nhiệm vụ chính

(A) Điều chỉnh cơ cấu ngành giấy theo khu vực, thúc đẩy sự phát triển có điều phối

Điều chỉnh cơ cấu của ngành giấy ở từng khu vực theo nguyên tắc làm nổi bật lợi thế so sánh, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, nêu bật những lợi thế so sánh. Xem xét năng lực xử lý môi trường và khai thác nguồn tài nguyên của các vùng khác nhau, mức độ khai thác hiện tại và tiềm năng phát triển. Nỗ lực phân bổ hợp lý nguồn tài nguyên và phát triển hài hoà với môi trường và kinh tế khu vực.

Trung tâm và hạ lưu khu vực sông Trường Giang: Ken dày các doanh nghiệp địa phương; chênh lệch về quy mô lớn; môi trường bị quá tải, phải khống chế cường độ khai thác; tăng cường thay thế năng lực, tăng cường điều chỉnh và sát nhập, cải thiện chất lượng sản phẩm, và thúc đẩy hợp lý hoá và nâng cấp năng lực sản xuất. Các tỉnh, khu vực như Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Nam An Huy cần tận dụng điều kiện khí hậu phát triển trồng rừng cây sinh trưởng nhanh, năng suất cao, tiếp tục thực hiện chính sách "Kết hợp rừng-giấy". Khu vực châu thổ sông Trường Giang (bao gồm Thượng Hải, Giang Tô, Chiết Giang, An Huy) có lợi thế về vị trí địa lý và có nhiều cơ sở sản xuất giấy phát triển, cần tận dụng tối đa bột gỗ và giấy loại nhập khẩu, trên cơ sở đảm bảo việc bảo vệ môi trường sát nhập các cơ sở sản xuất bột khử mực, sản xuất giấy, bìa và giấy chuyên dùng.

Khu vực Hoàng-Hoài-Hải (Hoàng Hà, Hoài Hà và Hải Hà, tức vùng Hoa Bắc): Ra sức mở rộng điều chỉnh cơ cấu ngành giấy trong khu vực, khống chế sản lượng, tối ưu hóa việc sử dụng nguyên liệu, tăng cường tiết kiệm năng lượng và tiết kiệm nước, kiểm soát chặt chẽ tổng lượng nước sử dụng, tổng lượng các chất gây ô nhiễm chính thải bỏ ra môi trường của ngành giấy. Điều chỉnh cơ cấu nguyên liệu thô và cách bố trí của doanh nghiệp, tăng cường sử dụng bột sản xuất từ gỗ và giấy thu hồi, và tích cực nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ sạch trong sản xuất bột rơm, nâng cao tỷ lệ các sản phẩm trung và cao cấp. Dựa trên lợi thế hiện có của các khu vực sản xuất, lấy các doanh nghiệp chủ chốt làm cơ sở, kết hợp các nguồn lực của khu vực, mở rộng chuỗi công nghiệp, nâng cấp ngành giấy của khu vực.

Khu vực duyên hải Hoa Nam: Thực hiện cả hai việc điều chỉnh và kiểm soát ô nhiễm. Thúc đẩy việc trồng rừng nguyên liệu giấy và sử dụng dăm mảnh của nước ngoài và các biện pháp khác để phát triển dự án "Kết hợp rừng-giấy”. Kiểm soát cường độ phát triển của khu vực sông Châu Giang, các doanh nghiệp giấy ở khu vực có quy mô nhỏ và được phân bố quá dày, cần đẩy mạnh việc sát nhập các doanh nghiệp hiện có, thúc đẩy nâng cấp trang thiết bị, sử dụng bột thương phẩm và giấy thu hồi làm nguyên liệu, hoàn thiện các cơ sở sản xuất giấy làm bao bì và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm. Thay đổi cơ cấu sản phẩm ở từng doanh nghiệp. Khu vực Quảng Tây có lợi thế trong "Kết hợp rừng-giấy", và trong việc tận dụng tối đa nguồn bã mía phong phú ở địa phương, tích cực phát triển sản xuất bột và giấy từ bã mía để nâng cao việc sử dụng có hiệu quả bã mía, giảm việc đốt bã mía trực tiếp.

Vùng Đông Bắc: Là khu vực có điều kiện tự nhiên tốt và tài nguyên nước phong phú phù hợp cho sự phát triển sản xuất bột giấy và giấy. Tăng cường việc kết hợp các nguồn lực và đổi mới công nghệ, nghiên cứu sử dụng tổng hợp các nguồn nguyên liệu thô nhập khẩu từ nước ngoài và tận dụng triệt để các chất tồn dư trong quá trình khai thác lâm nghiệp và nguồn rơm ở trong nước, đồng thời hỗ trợ xây dựng các vườn ươm lau sậy và cây mọc nhanh hiện có.

Vùng Tây Nam: Tập trung phát triển tài nguyên tre, bố trí quy hoạch hợp lý, mở rộng xây dựng cơ sở hạ tầng như đường lâm nghiệp. Nên phát triển một lượng bột gỗ và bột tre, và tận dụng toàn bộ các nguồn giấy đã qua sử dụng trong vùng, chuyển lợi thế về tài nguyên thành lợi thế về kinh tế.

Tây Bắc: Vùng này nằm ở đầu nguồn các con sông, phần lớn môi trường sinh thái dễ bị ảnh hưởng, khu vực này thiếu nước, thiều nguồn xơ sợi do vậy không nên phát triển ngành giấy. Thông qua sáp nhập và mua lại các doanh nghiệp chính; nâng cấp, hoàn thiện cơ sở xử lý chất thải, để tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sản xuất sạch, tận dụng các tài nguyên và các vật liệu có thể tái chế riêng của khu vực để duy trì công suất vừa phải.

(B) Tối ưu hóa quy mô doanh nghiệp và thúc đẩy việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Sát nhập các doanh nghiệp giấy và bột. Trên nguyên tắc bổ sung ưu thế lẫn nhau, nguyên tắc sát nhập tự nguyện, hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất giấy và bột giấy quy mô lớn thông qua việc sáp nhập, mua lại và liên doanh và các hình thức hợp tác khác, hình thành các tập đoàn doanh nghiệp giấy và bột giấy mạnh có năng lực cạnh tranh quốc tế. Hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất giấy nhỏ và vừa phát triển theo hướng mới, đặc biệt, tinh tế, riêng biệt, thực hiện liên kết ngang, nâng cao trình độ chuyên nghiệp và khả năng chống rủi ro. Các doanh nghiệp nhỏ, năng lực sản xuất lạc hậu, không có khả năng xử lý môi trường sẽ bị loại bỏ.

Cải thiện mật độ tập trung công nghiệp. Điều chỉnh quy mô doanh nghiệp, thay đổi số lượng doanh nghiệp quy mô nhỏ, bố trí phân tán, các doanh nghiệp năng lực sản xuất quy mô lớn thay thế các doanh nghiệp có năng lực sản xuất lạc hậu. Trong Kế hoạch 05 năm lần thứ 13, xây dựng các dự án giấy và bột giấy có quy mô đủ để tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Ngoài giấy mỏng (định lượng ≤ 40g/m2), giấy đặc biệt và các loại giấy và bìa khác, các dự án xây dựng mới và cải tạo kỹ thuật phải có quy mô lớn hơn công suất khởi đầu sau đây.

Quy mô khởi đầu dự án xây mới và cải tạo kỹ thuật:

(A) Bột giấy

1, Dây chuyền sản xuất bột từ gỗ theo phương pháp hoá học

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn từ 300.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên

2, Dây chuyền sản xuất bột từ gỗ theo phương pháp cơ-hoá học.

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ   50.000 tấn/năm trở lên

3, Dây chuyền sản xuất bột từ tre theo phương pháp hoá học

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ   50.000 tấn/năm trở lên

4. Bột phi gỗ (rơm, sậy, bã mía…)

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn       34.000 tấn/năm trở lên

5, Bột từ giấy thu hồi

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên (dây chuyền bột để sản                           xuất giấy mỏng 50.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ   50.000 tấn/năm trở lên

B) Giấy và bìa

1, Giấy in báo

Dự án mới:      Hạn chế xây dựng mới
Dự án cải tạo: Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên

2, Giấy in & viết

Dự án mới:      Giấy in viết                  Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên;
                      Giấy tráng phấn           Hạn chế dự án mới
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ 50.000 tấn/năm trở lên

3, Giấy lớp phẳng

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn 300.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên

4, Bìa cứng trắng

Dự án mới:      Hạn chế xây dựng mới
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên

5, Giấy lớp sóng

Dự án mới:      Dây chuyền sản xuất đơn từ 100.000 tấn/năm trở lên
Dự án cải tạo:  Dây chuyền sản xuất đơn từ   50.000 tấn/năm trở lên

6, Giấy mỏng, giấy chuyên dụng và bìa cứng

Dự án mới:      Không quy định quy mô bắt đầu
Dự án cải tạo: Không quy định quy mô bắt đầu

C) Cải thiện cấu trúc nguyên liệu xơ sợi, tăng nguồn cung hiệu quả ở trong nước

Tăng tỷ lệ sử dụng xơ sợi gỗ. Tận dụng gỗ khai thác trong nước và nhập khẩu để hỗ trợ các doanh nghiệp tăng cường tự cung tự cấp nguyên liệu. Thực hiện các biện pháp khai thác tiềm năng các nguồn lực, kết hợp với tài nguyên rừng và phối hợp với “Kế hoạch xây dựng rừng phòng hộ quốc gia giai đoạn 2016-2020” để ra sức phát triển rừng nguyên liệu giấy, ươm giống cây tốt, nâng cao năng suất đất rừng, nâng cao năng lực cung cấp của rừng nguyên liệu giấy. Mở rộng việc sử dụng gỗ tỉa thưa, gỗ đường kính nhỏ, phế liệu thu hồi trong chế biến. Về mặt tận dụng nguồn tài nguyên ở nước ngoài, khuyến khích nhập khẩu gỗ, dăm mảnh, bột sản xuất từ gỗ, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước trồng rừng hoặc đầu tư xây dựng cơ sở rừng nguyên liệu giấy quy mô lớn ở nước ngoài. Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sử dụng nguyên liệu gỗ nhập khẩu. Tại các vùng thích hợp, xây dựng các dự án sản xuất bột và giấy thương mại quy mô lớn hoặc cải tạo để nâng cao quy mô dây chuyền sản xuất bột từ gỗ hiện có.

Tăng cường sử dụng giấy thu hồi. Tái chế và tận dụng giấy thu hồi phản ánh đặc trưng của ngành giấy, của nền kinh tế tuần hoàn và của nền kinh tế carbon thấp, tận dụng triệt để các nguồn giấy thu hồi là một biện pháp quan trọng để điều chỉnh cơ cấu nguyên liệu trong sản xuất giấy. Hiện nay, tỷ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng ở Trung Quốc gần tới giới hạn có thể thu hồi được do cơ cấu kinh tế. Khối lượng thu hồi được khó có thể tăng rõ rệt trong ngắn hạn và do vậy cần phải ổn định và mở rộng các kênh thu gom giấy thu hồi từ nước ngoài, cùng lúc tăng cường xây dựng các hệ thống thu gom trong nước, tiêu chuẩn hoá và thống nhất hoá các hoạt động mua bán, nâng cao hiệu quả cung cấp giấy thu hồi nội địa và tỷ lệ sử dụng giấy thu hồi.

Sử dụng hợp lý xơ sợi phi gỗ. Tài nguyên phi gỗ là một phần quan trọng của cấu trúc nguyên liệu đa dạng của ngành giấy Trung Quốc, có ý nghĩa quan trọng để giảm bớt sự phụ thuộc của ngành giấy Trung Quốc vào nguyên liệu thô nhập khẩu. Kiên trì dựa vào các điều kiện địa phương, sử dụng theo nguyên tắc khoa học và hợp lý các nguồn tài nguyên phi gỗ nhằm nâng cao mức độ sử dụng xơ sợi phi gỗ. Tận dụng tối đa tre, sậy, bã mía, rơm rạ và các tài nguyên phi gỗ khác, và cố gắng làm cho bột phi gỗ phát triển bền vững và hợp lý. Khuyến khích sử dụng rơm thải nông nghiệp làm nguyên liệu, sử dụng công nghệ sản xuất sạch để sản xuất bột phi gỗ, để thúc đẩy việc tận dụng toàn bộ tài nguyên rơm.

(D) Tăng cường sản xuất sạch để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn

Phát huy tối đa các lợi thế của các thuộc tính xanh của ngành giấy. Khuyến khích các doanh nghiệp theo triết lý quản lý vòng đời tổng thể của sản phẩm, nâng cao hiệu quả trong việc tái chế các nguồn tài nguyên để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn trong ngành giấy. Phát triển sản phẩm xanh, tạo ra các nhà máy xanh, định hướng tiêu dùng xanh. Thay đổi cách thức phát triển, phù hợp với nguyên tắc giảm bớt, tái sử dụng, dựa vào nguồn lực của mình. Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước, năng lượng, đất và nguyên liệu thực vật, tiết kiệm tài nguyên, giảm mức tiêu thụ năng lượng và phát thải chất gây ô nhiễm, xây dựng ngành giấy thành một ngành tiết kiệm tài nguyên và ít gây hại cho môi trường.

Cải thiện mức sử dụng toàn diện các nguồn lực. Sử dụng triệt để năng lượng của dịch đen, cặn bã, bùn, khí ga và các dạng năng lượng sinh khối đặc trưng khác, nâng cao mức đồng phát, sử dụng áp suất dư, nhiệt từ chất thải và năng lượng khác, khí ga từ chất thải (ga sinh học và khí ga từ chất thải khác) và các chất thải có thể tái chế (dịch đen và nước thải khác). Tối đa hoá việc sử dụng các tài nguyên: sử dụng triệt để các loại cây mọc nhanh, mở rộng việc sử dụng gỗ tỉa thưa, gỗ đường kính nhỏ, phế liệu trong chế biến gỗ trong sản xuất bột từ gỗ, nâng cao việc tận dụng toàn bộ gỗ, tiết kiệm gỗ. Cải thiện công nghệ sản xuất sạch đối với bột phi gỗ, sử dụng công nghệ làm tăng giá trị của bột phi gỗ và tận dụng triệt để các chất thải.

(E) Cải thiện công tác quản lý môi trường và giảm mức xả thải

Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và thiệt hại về sinh thái từ nguồn. Doanh nghiệp sản xuất giấy phải xin giấy phép xả thải và xả thải theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp sản xuất giấy chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm soát ô nhiễm, dựa vào các tiêu chuẩn liên quan tự theo dõi và xây dựng báo cáo; nộp báo cáo thực hiện xử lý môi trường đúng thời hạn và công bố báo cáo kịp thời; Tăng cường quản lý giám sát khí thải của nồi hơi, lò thu hồi kiềm, lò vôi, lò đốt và lò đốt rác và cải thiện hệ thống xử lý và kiểm soát việc xả thải của nước thải trong sản xuất, nước thải sinh hoạt, nước mưa chảy tràn trong thời gian đầu. Đảm bảo các công trình kiểm soát ô nhiễm hoạt động ổn định, các chất thải ra môi trường phải đạt tiêu chuẩn cho phép. Cải thiện việc xử lý chất thải rắn, tăng cường việc thu gom và xử lý chất vô cơ gây ô nhiễm.

(F) Thực hiện chiến lược "03 phẩm" (tối ưu hoá cơ cấu sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu sản phẩm), điều chỉnh và cải thiện cơ cấu sản phẩm

Phẩm thứ nhất - Tối ưu hóa cơ cấu các loại sản phẩm: Tập trung vào việc quảng bá và tối ưu hóa cơ cấu các loại giấy in, giấy viết, giấy tissue, giấy làm bao bì, bìa cứng và giấy đặc biệt đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường tiêu dùng. Tăng cường nghiên cứu và phát triển các sản phẩm giấy mới để thích ứng với công nghệ thông tin, Internet vạn vật, đáp ứng nhu cầu của thời đại Internet về các loại sản phẩm khác nhau.

Phẩm thứ hai - Nâng cao chất lượng sản phẩm. Cải thiện trình độ thiết kế và chất lượng sản phẩm giấy, thúc đẩy việc nâng cấp các sản phẩm về chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

Phẩm thứ ba - Tăng cường xây dựng thương hiệu. Tăng cường xây dựng thương hiệu, tập trung vào thương hiệu các sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng như bao bì giấy, sách, giấy tissue, giấy photocopy…, tuyên truyền về chất lượng sản phẩm của các thương hiệu này và khái niệm sản phẩm xanh, thu hẹp khoảng cách với các thương hiệu quốc tế.

(G) Thúc đẩy sự phát triển của công nghệ và thiết bị, và tăng cường năng lực cạnh tranh cốt lõi

Tăng cường xây dựng khả năng sáng tạo độc lập của các doanh nghiệp chế tạo thiết bị sản xuất giấy. Đối với việc nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ và ngành chế tạo thiết bị của Trung Quốc, khuyến khích cải cách và đổi mới hệ thống R&D của ngành chế tạo thiết bị sản xuất giấy ở Trung Quốc. Tập trung vào việc phát triển công nghệ và thiết bị với quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc để nâng cao khả năng liên hợp thiết kế và trình độ tổng thể của công nghệ và thiết bị. Tập trung vào phần cốt lõi của công nghệ chế tạo thiết bị sản xuất giấy và khả năng chế tạo thiết bị và phấn đấu để những thiết bị này tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới.

Nỗ lực phát triển công nghệ và thiết bị sản xuất bột thế hệ mới. Khuyến khích sử dụng các thiết bị mới, quá trình mới và thiết bị mới, tiên tiến, hoàn thiện, ít gây hại cho môi trường.

Trên cơ sở công nghệ tiên tiến, phát triển thiết bị mới hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng, giảm đáng kể phát thải, nâng cao mức độ tự chủ trong chế tạo thiết bị sản xuất giấy. Hiện nay ngành giấy Trung Quốc phát triển rất mất cân đối. Các doanh nghiệp có thiết bị ở trình độ trung bình và thấp chiếm đa số. Việc thay thế ở các quy mô khác nhau các công suất sản xuất lạc hậu bằng các năng lực sản xuất tiên tiến quy mô lớn, việc nâng cấp công nghệ, nâng cấp thiết bị của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp quy mô vừa đang được đẩy mạnh. Việc thay thế các công suất lạc hậu là trọng tâm của ngành giấy.

(H) Thúc đẩy sự hoà hợp nhị hoá (công nghiệp hoá, thông tin hoá), nâng cao trình độ sản xuất thông minh

Nhanh chóng xây dựng hệ thống quản lý hoà hợp nhị hoá. Thúc đẩy các doanh nghiệp ngành giấy lấy việc hoà hợp quản lý nhị hoá như là một động lực, để thực hiện quản lý theo mô hình đổi mới và hiện đại hóa quản lý, nuôi dưỡng và tăng cường quản lý tinh gọn, sản xuất đại trà tuỳ theo nhu cầu của khách hàng (tuỳ biến đại chúng - cá thể hoá ở mức độ cao), cộng tác dây chuyền cung ứng, phản ứng nhanh với thị trường, tiếp thị chính xác và khả năng cạnh tranh cốt lõi khác.

Đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin và công nghệ robot. Tăng tốc tiến trình tự động hóa thiết bị, điều khiển số, công nghệ thông minh và thúc đẩy việc thiết kế, sản xuất và ứng dụng các thiết bị sản xuất thông minh / và các dây chuyền sản xuất thông minh như các robot chuyên dùng. Nâng cao vai trò của các thiết bị và các sản phẩm thông minh trong quá trình phát triển ngành giấy, đặc biệt là hoà hợp các ứng dụng hiện có DCS, QCS, ERP, OA thúc đẩy việc ứng dụng điều khiển quá trình sản xuất MES (manufacturing execution system - hệ thống điều hành sản xuất), không ngừng thu hẹp khoảng cách với trình độ tiên tiến trên thế giới, phấn đấu có bước đột phá trong kỹ thuật điều khiển thông minh. Thúc đẩy ứng dụng các công nghệ hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng, tiêu hao thấp, giám sát hoạt động thông minh, bào trì thông minh trực tuyến và các công nghệ khác.

Thúc đẩy các ứng dụng Internet. Trong lĩnh vực sản phẩm giấy ra sức thúc đẩy ứng dụng internet từ việc đặt hàng, thiết kế, sản xuất, bán hàng và vận chuyển; thiết kế sản phẩm: bao bì giấy cách tân, sách, giấy copy, giấy tissue và các thành phẩm khác, tạo mô hình tiếp thị dành cho cộng đồng để cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm linh hoạt. Tạo ra nhiều lựa chọn mua sắm, dịch vụ tiện lợi và hiệu quả hơn.

(J) Mở rộng không gian phát triển của doanh nghiệp, giảm rủi ro kinh doanh

Tận dụng tài nguyên và thị trường trong nước và nước ngoài để hoá giải các rủi ro kinh doanh. Để đối phó với các yếu tố làm tăng chi phí của doanh nghiệp, nhất là năng lượng, bảo vệ môi trường vầ chi phí nhân công, ngành giấy phải tăng cường hơn nữa giá trị gia tăng của các sản phẩm và hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất bột giấy, giấy và các sản phẩm giấy phát triển các sản phẩm đầu nguồn và cuối nguồn, tăng giá trị của chuỗi công nghiệp, tăng mức lợi nhuận. Nỗ lực xây dựng một thị trường kỳ hạn cho bột thương phẩm và một số thị trường giấy và bột giấy ở Trung Quốc, mở rộng tài chính doanh nghiệp và mức ngại rủi ro bằng các phương tiện thị trường và giảm rủi ro kinh doanh. Tạo nền tảng internet “02 tạo” (sáng tạo và tạo nghiệp) cho các doanh nghiệp sản xuất giấy và đẩy nhanh việc xây dựng mô hình mới về nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất, quản lý và dịch vụ, thúc đẩy đổi mới sản phẩm công nghệ và tối ưu hoá quản lý, và nâng cao khả năng và mức độ đổi mới tổng thể của doanh nghiệp. Nâng cao năng lực quản lý, năng lực khai thác tài nguyên, khả năng chế tạo sản phẩm và khả năng cung cấp dịch vụ tiếp thị, nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi của các doanh nghiệp chủ yếu..

(K) Tăng cường tái chế giấy thu hồi, thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm xanh các bon thấp

Ngành giấy là nhà cung cấp các sản phẩm xanh cho người tiêu dùng, nhưng cũng nên là người ủng hộ và người hướng dẫn tiêu dùng xanh. Cần tích cực quảng bá các đặc tính xanh của ngành giấy, thúc đẩy việc tái chế các sản phẩm giấy có mức các bon thấp, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về việc tiết kiệm giấy, hướng tiêu dùng hợp lý hàng hoá có lượng các bon thấp, xanh. Hướng dẫn các doanh nghiệp tăng cường sử dụng giấy thu hồi, sử dụng bột khử mực từ giấy thu hồi để sản xuất giấy in & viết và giấy tissue nhằm tăng tỉ lệ giấy thu hồi trong nguyên liệu sản xuất. Đề xướng độ sáng thích hợp cho giấy viết, giấy in, giấy tissue…, hoàn thiện quá trình tẩy trắng bột tự nhiên. Tiết kiệm nguồn xơ sợi tự nhiên và tránh sản xuất dư thừa sản phẩm giấy.

 (L) Kêu gọi trách nhiệm xã hội của công ty, nâng cao hình ảnh công chúng của công ty

“Kế hoạch 05 năm lần thứ 13” là một giai đoạn quan trọng cho sự phát triển xanh của ngành giấy. Các doanh nghiệp sản xuất giấy cùng với việc chăm lo phát triển phải chú trọng hơn nữa đến trách nhiệm xã hội và hình ảnh trong công chúng, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực vào các hoạt động phúc lợi xã hội, Tận dụng mọi loại hình truyền thông khác nhau, tuyên truyền các thành tựu đạt được của doanh nghiệp trong việc bảo vệ sinh thái, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải, phúc lợi xã hội, lợi ích của người lao động và phát triển xanh, nâng cao hình ảnh trong công chúng của công ty, đặt nền móng tốt hơn cho sự phát triển của ngành giấy.

Thứ Bảy, Các biện pháp tự vệ

(A) Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm của thị trường để thúc đẩy sự phát triển có trật tự của ngành giấy

Thiết lập cơ chế thông báo về thị trường, năng lực của ngành và cảnh báo sớm: đơn đặt mua hàng kịp thời, thông báo về tình hình tiêu thụ của ngành, các công suất mới đang được lắp đặt, các xu thế phát triển của ngành, khối lượng sản phẩm, chỉ số giá và những thông tin khác; thiết lập một số dạng cơ chế cảnh báo sớm, thông báo kịp thời về sự phát triển của ngành, hoặc sự co lại của thị trường để kịp thời cung cấp các hướng dẫn chuyển đổi hoặc điều chỉnh kết cấu sản phẩm tránh phát triển một cách mù quáng; ngành giấy cần phải lập kế hoạch, để tránh cạnh tranh độc quyền và cạnh tranh xấu xa, để tránh tình trạng dư thừa công suất; Hiệp hội cần đóng vai trò hướng dẫn sự phát triển khoa học của ngành, vì năng lực mới và chuyển đổi công nghệ thoả mãn nhu cầu trong nước là điều kiện tiên quyết để duy trì sự cân bằng cơ bản của sản xuất trong nước và mức độ xuất, nhập khẩu thích hợp và thúc đẩy tối ưu hóa cơ cấu sản phẩm.

(B) Để hỗ trợ chính sách vĩ mô, thúc đẩy việc xây dựng rừng nguyên liệu giấy

Để phát huy tốt hơn các đặc điểm của nền kinh tế tuần hoàn, giai đoạn "Kế hoạch 05 năm lần thứ 13”, tận dụng triệt để các nguồn tài nguyên phi gỗ làm nguyên liệu thô; thí điểm đưa cơ sở rừng nguyên liệu gỗ vào rừng bảo hộ; hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng rừng nguyên liệu giấy lớn ở nước ngoài; hướng dẫn việc sử dụng gỗ nhập khẩu từ nước ngoài, dăm mảnh trong những khu vực phù hợp để xây dựng dự án kết hợp giấy và bột giấy thương mại quy mô lớn; rừng tre nứa trong khu vực kiểm soát rừng không thể phát huy được những lợi thế của tre nứa, do vậy chính quyền địa phương cần xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp như đường lâm nghiệp và các cơ sở nông nghiệp khác để tạo thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển tre nứa của nông dân nhằm nâng cao thu nhập của nông dân và khuyến khích nông dân trồng rừng.

(C) Trình bày việc sửa đổi các tiêu chuẩn có liên quan, thúc đẩy việc sử dụng các sản phẩm carbon thấp

Củng cố các tiêu chuẩn sản phẩm ngành giấy, phương pháp kiểm tra và các tiêu chuẩn kỹ thuật khác để sử dụng các tiêu chuẩn đã được sửa đổi. Tăng tốc độ phát triển các sản phẩm mới, công nghệ mới và các tiêu chuẩn khác, sửa đổi kịp thời và cải tiến các tiêu chuẩn liên quan hiện có, đề xuất các tiêu chuẩn của Hiệp hội Giấy Trung Quốc. Bộ Công Thương đã ban hành "Hướng dẫn về việc đẩy mạnh chuyển dịch và phát triển ngành bao bì Trung Quốc" khuyến khích áp dụng mô-đun cơ sở của bao bì là 600 mm × 400 mm, dẫn tới tiêu chuẩn hóa vận chuyển từ nguồn. Tăng cường quản lý việc phân loại giấy thu hồi dùng để tái chế, nâng cao chất lượng giấy thu hồi thu gom trong nước dùng để tái chế. Thiết lập hệ thống nhận dạng giấy và bìa dùng để tái chế, sửa đổi kịp thời việc phân loại giấy thu hồi dùng để tái chế và hướng dẫn việc mua bán.

Hướng dẫn xã hội về tính hợp lý trong lựa chọn tiêu dùng, tiêu dùng các sản phẩm các bon thấp xanh, chẳng hạn như lựa chọn giấy tissue, giấy bao gói màu tự nhiên không tẩy trắng, và giấy thu hồi làm nguyên liệu sản xuất giấy vệ sinh…, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về việc tiết kiệm giấy. Khuyến nghị chính quyền các cấp ưu tiên mua các sản phẩm giấy sản xuất từ giấy thu hồi hoặc sử dụng một tỷ lệ phần trăm giấy thu hồi nhất định để sản xuất.

(D) Thu hút và tập hợp tài năng và đào tạo nhân viên chuyên nghiệp

Tăng nhân lực R&D cao cấp, nhân lực có tay nghề cao và nhân viên quản lý cấp cao để giới thiệu và đào tạo cho các doanh nghiệp giấy và bột giấy hiện đại. Khuyến khích các doanh nghiệp giới thiệu và nuôi dưỡng nhân tài để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển ở nước ngoài. Tất cả các loại chế định đều nhằm vào việc tăng cường giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân viên, đào tạo từ thấp tới nhân viên có tay nghề cao. Tiếp tục tối ưu hóa nền tảng kiến ​​thức của nhân viên, và dần dần hình thành một đội ngũ nhân viên chất lượng cao.

(E) Hiệp hội hướng dẫn ngành giấy phát triển lành mạnh

Hiệp hội ngành hướng dẫn ngành giấy quy hoạch khoa học, phát triển có trật tự và tạo môi trường cạnh tranh công bằng. Chủ động thực hiện chức năng dịch vụ, tự chủ, đại diện, phối hợp, tăng cường khả năng dịch vụ hai chiều, nâng cao vai trò của hiệp hội để giải quyết mâu thuẫn của doanh nghiệp trong nước và khả năng đối phó với tranh chấp thương mại quốc tế. Hiệp hội ngành cần nắm bắt thực tiễn sâu sắc, bám sát doanh nghiệp, kịp thời hiểu thấu và phân tích các chính sách khác nhau trong tình hình mới, phản ánh nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và của ngành, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp theo pháp luật, đưa ra lời khuyên thiết thực và gợi ý để giải quyết vấn đề. Tổ chức ngành thực hiện các hoạt động từ thiện, có kế hoạch truyền bá kiến thức phổ thông liên quan đến giấy, Tạo ra một môi trường dư luận tốt, từng bước thay đổi nhận thức xã hội về ảnh hưởng của ngành giấy tới môi trường hướng tới sự phát triển lành mạnh và bền vững.

 

Tài liệu gốc là bản tiếng Trung:

[全文] 中国造纸协会关于造十三五发展的意见

纸协[2017]11

do ông Hàn Vinh Quang, Chủ tịch Hiệp hội, Chủ tịch Công ty Giấy An Bình cung cấp.

Bản dịch từ tiếng Trung ra tiếng Việt này do Văn phòng Hiệp hội dịch thực hiện và đã được ông Võ Thành Đạt, cán bộ của Công ty TNHH Nhà máy Giấy Đại Dương, Tiền Giang chỉnh sửa.

Nhân dịp này Văn phòng Hiệp hội chân thành cảm ơn ông Hàn Vinh Quang và ông Võ Thành Đạt.

Độc giả cần bản gốc (tiếng Trung) xin liên hệ với Văn phòng Hiệp hội (vanphong.vppa@gmail.com).

GHI CHÚ

Do trong phần Thứ ba - Tư tưởng chỉ đạo có nêu khái niệm phát triển “đổi mới, cân bằng, phát triển xanh, mở rộng và chia sẻ”; nên để hiểu rõ hơn nội dung này, độc giả xem thêm Chương 4 - Triết lý phát triển nêu trong “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13” dưới đây

THE 13TH FIVE-YEAR PLAN FOR ECONOMIC AND SOCIAL DEVELOPMENT OF THE PEOPLE’S REPUBLIC OF CHINA

Translated by

Compilation and Translation Bureau, Central Committee of the Communist Party of China

Beijing, China

KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ 13 ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

Bản dịch của

Ban Biên soạn và Dịch thuật, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc

Bắc Kinh, Trung Quốc

Chapter 4 The Development Philosophy

In order to achieve the objectives for the 13th Five-Year Plan period, resolve difficulties encountered during development, and cultivate strengths for further development, we need to firmly establish and put into practice a new philosophy of innovative, coordinated, green, open, and shared development.

Chương 4 Triết lý phát triển

Để đạt được các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm lần thứ 13, giải quyết những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển, và phát huy thế mạnh để phát triển hơn nữa, chúng ta cần thiết lập một cách vững chắc và đưa vào thực tiễn một triết lý mới về phát triển có tính cách đổi mới, được điều phối, xanh, mở rộng và chia sẻ.

• Innovation: the primary driving force for development

Innovation must be placed at the heart of China’s development and advanced in every field, from theory to institutions, science, technology, and culture. Innovation should permeate the work of the Party and the country and become an inherent part of society.

Đổi mới: động lực chính để phát triển

Đổi mới phải được đặt ở trung tâm phát triển của Trung Quốc và được thúc đẩy trong mọi lĩnh vực, từ lý thuyết đến các thể chế, khoa học, công nghệ và văn hoá. Đổi mới phải thấm nhập vào công việc của Đảng và đất nước và trở thành một phần vốn có của xã hội.

• Coordination: an integral quality of sustained and healthy development

While keeping firmly in mind the overall strategy for developing socialism with Chinese characteristics, we need to properly handle relationships between major areas of development, focusing on advancing coordinated development between rural and urban areas, between different regions, and between economic and social development, and advancing the synchronized development of a new style of industrialization, information technology adoption, urbanization, and agricultural modernization. While increasing China’s hard power, we need also to improve its soft power, striving constantly to make development more comprehensive.

• Phối hợp: một tính chất không thể tách rời của sự phát triển bền vững và lành mạnh

Trong khi ghi nhớ chiến lược tổng thể phát triển chủ nghĩa xã hội với đặc thù của Trung Quốc, chúng ta cần phải quản lý đúng đắn các mối quan hệ giữa các khu vực phát triển chính, tập trung vào việc thúc đẩy sự phát triển phối hợp giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng khác nhau và giữa phát triển kinh tế và xã hội, và thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của một phong cách mới về công nghiệp hóa, thông qua công nghệ thông tin, đô thị hoá và hiện đại hóa nông nghiệp. Trong khi tăng cường quyền lực cứng của Trung Quốc, chúng ta cũng cần phải cải thiện quyền lực mềm của mình, phấn đấu không ngừng để phát triển toàn diện hơn.

• Green: both a necessary condition for ensuring lasting development and an important way in which people can work to pursue a better life.

We need to uphold the fundamental state policy of conserving resources and protecting the environment as we pursue sustainable development, and keep to a civilized development path that ensures increased levels of production, better living standards, and sound ecosystems. We will move faster to build a resource-conserving, environmentally friendly society and bring about a new model of modernization whereby humankind develops in harmony with nature. We will move forward with building a Beautiful China and make new contributions toward ensuring global eco-security.

• Phát triển xanh: vừa là điều kiện cần thiết để đảm bảo phát triển bền vững và là một con đường quan trọng theo đó mọi người có thể làm việc để theo đuổi một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Chúng ta cần phải duy trì chính sách nhà nước cơ bản trong việc bảo tồn các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường khi chúng ta theo đuổi sự phát triển bền vững và tiến tới một con đường phát triển văn minh đảm bảo mức sản xuất tăng lên, mức sống tốt hơn và hệ sinh thái trong lành. Chúng ta sẽ tiến lên nhanh hơn để xây dựng một xã hội bảo tồn tài nguyên, ít gây hại cho môi trường và đưa ra một mô hình hiện đại hóa mới, theo đó con người phát triển hài hoà với thiên nhiên. Chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng một Trung Quốc tươi đẹp và có những đóng góp mới nhằm đảm bảo an ninh sinh thái toàn cầu.

• Opening up: vital for China’s prosperity and development

In adapting to China’s ever-deepening integration into the world economy, we will pursue a mutually beneficial strategy of opening up, coordinate the role of domestic and foreign demand in stimulating growth, balance imports and exports, stress the importance of both bringing in and going global, and work simultaneously to attract foreign investment, technology, and talent. We will achieve a higher level of openness within our economy, participate actively in global economic governance and the global supply of public goods, seek a greater say in the institutions for global economic governance, and look to build more international communities of interests.

• Mở rộng: có tính sống còn đối với sự thịnh vượng và phát triển của Trung Quốc

Để thích nghi với sự hội nhập ngày càng sâu rộng của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới, chúng tôi sẽ theo đuổi chiến lược mở rộng cùng có lợi, phối hợp vai trò của nhu cầu trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng, cân bằng nhập khẩu và xuất khẩu, nhấn mạnh tầm quan trọng của cả hai, việc đem vào và bước ra toàn cầu và đồng thời, công việc thu hút đầu tư, công nghệ và tài năng từ nước ngoài. Chúng ta sẽ đạt được mức độ mở cao hơn bên trong nền kinh tế của chúng ta, tham gia tích cực vào quản trị kinh tế toàn cầu và cung cấp hàng hoá công cộng trên phạm vi toàn cầu, tìm kiếm tiếng nói lớn hơn trong các thể chế về quản trị kinh tế toàn cầu, và xây dựng thêm nhiều cộng đồng quốc tế có quyền lợi chung.

• Sharing: the essence of Chinese-style socialism

We must ensure that development is for the people, that it is reliant on the people, and that its fruits are shared by the people. We will improve our institutions to enable the people to have a greater sense of benefit as they contribute to development and share in its fruits, thus strengthening the impetus for development, increasing unity among the people, and helping them move steadily toward common prosperity.

The pursuit of innovative, coordinated, green, open, and shared development represents a profound change in China’s development effort. This new development philosophy constitutes a joint body of parts internally linked together and an embodiment of our country’s thinking, direction, and the focus of its efforts related to development during the 13th Five-Year Plan period and beyond; it must permeate all areas of economic and social development over the coming five years.

• Chia sẻ: bản chất của chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc

Chúng ta phải đảm bảo rằng phát triển là vì dân, rằng sự phát triển phụ thuộc vào người dân, và rằng thành quả của sự phát triển phải được chia sẻ cho mọi người dân. Chúng ta sẽ cải thiện các thể chế của mình để giúp người dân có được cảm nhận về lợi ích lớn hơn khi họ đóng góp cho sự phát triển và chia sẻ kết quả của nó, nhờ vậy tăng cường xung lực cho sự phát triển, tăng cường sự thống nhất giữa mọi người và giúp họ hành động vững chắc theo hướng thịnh vượng chung.

Việc theo đuổi sự phát triển có tính đổi mới, phối hợp, xanh, mở rộng và chia sẻ thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong nỗ lực phát triển của Trung Quốc. Triết lý phát triển mới này tạo thành một bộ phận chung của các phần được kết nối ở bên trong với nhau và là hiện thân của tư duy, định hướng của nước ta và là trọng tâm của các nỗ lực của đất nước liên quan đến sự phát triển trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 và những năm sau đó; triết lý này phải thấm vào tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế và xã hội trong năm năm tới.

 

Bản dịch tiếng Việt: Văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam

 

Tuy nhiên trong Hội nghị For Asia 2025, do nhà xuất bản Asia House tổ chức vào 08/03/2016, ông Lui Xiaoming, Đại sứ Trung Quốc tại Vương quốc Anh trong bài phát biểu “China in the Next Decade” lại sử dụng những từ sau để chỉ 5 khái niệm phát triển chính trong Kế hoạch 05 năm lần thứ 13:

…five key development concepts, namely; innovation, balanced growth, a green economy, opening-up, and inclusive development.

Dịch ra là: 5 khái niệm phát triển chính, đó là: phát triển có tính đổi mới, phát triển với tăng trưởng cân bằng, phát triển một nền kinh tế xanh, phát triển mở rộng, và phát triển vì mọi người.

Do chuyển ngữ nên có thể mỗi người sử dụng từ khác nhau nhưng nội dung chủ yếu của 05 khái niệm này được nêu rõ trong Chương 4 (bản dịch của Ban Biên soạn và Dịch thuật, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc).

Nguồn: http://vppa.vn

Lượt truy cập: 14,740,932
Đang online: 16
Bản quyền 2011 © CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN BÌNH
27/5A Kha Vạn Cân, Phường An Bình, Thị xã Dĩ An, Tỉnh Bình Dương
Điện thoại: +84 (028) 38.960.155 - Fax: +84 (028) 38.960.700
Email: info@anbinhpaper.com - Website: www.anbinhpaper.com